• Hỏi đáp
  • Giúp bạn hiểu hơn về bệnh suy giãn tĩnh mạch nông vùng chân

Giúp bạn hiểu hơn về bệnh suy giãn tĩnh mạch nông vùng chân

[Hỏi đáp] Được biết suy giãn tĩnh mạch chân là loại bệnh lý mãn tính phổ biến hiện nay. Vậy cụ thể bệnh này là gì? Biểu hiện triệu chứng và cách phòng tránh cũng như phương pháp chữa trị nào có thể được áp dụng?

Về bệnh lý suy giãn tĩnh mạch nông vùng chân nói chung, theo WHO thì đây là loại bệnh lý mãn tính với tình trạng các tĩnh mạch nông ở phần chi bị tổn thương, nổi rõ dưới da và thường bị tái phát. Để có thể phòng tránh hoặc hỗ trợ trị chữa hiệu quả bệnh suy giãn tĩnh mạch chân tất yếu đòi hỏi người bệnh phải có ý thức cũng như tuân thủ thực hiện nhiều biện pháp can thiệp cùng lúc.

Giúp bạn hiểu hơn về bệnh suy giãn tĩnh mạch nông vùng chân

Căn bệnh này phổ biến ở khoảng hơn 35% người lao động và trên 50% ở người về hưu, tỷ lệ mắc bệnh của nữ giới cao gấp 3 lần so với nam giới. Tuy nhiên, hầu hết người bệnh đều không biết mình mắc bệnh này nên không được chẩn đoán và điều trị kịp thời, do những biểu hiện ban đầu rất khó phân biệt cũng như chưa được người bệnh quan tâm đúng mực.

1. Yếu tố rủi ro:

- Người cao tuổi: Khoảng hơn 50% người trên 50 tuổi mắc bệnh, đến 70 tuổi tỷ lệ này tăng cao hơn 70%.

- Di truyền: Nếu bố hoặc mẹ mắc bệnh thì nguy cơ mắc bệnh tăng gấp 2 lần, nếu cả bố và mẹ đều mắc bệnh thì nguy cơ mắc bệnh tăng gấp 4 lần.

- Giới: Phụ nữ cao gấp 3 lần nam giới, và những nguyên nhân được cho là liên quan đến nhiều vấn đề như hormone estrogen, ảnh hưởng của progesterone lên thành mạch máu, thói quen ít vận động, đứng lâu, đặc biệt là mang thai. Phụ nữ mang thai trong những tháng cuối thai kỳ, áp lực trong khoang bụng tăng cao, cản trở sự đưa máu tĩnh mạch về tim, dẫn đến tình trạng giãn tĩnh mạch trước và sau khi sinh.

- Kiểu sống: Thói quen ăn ít chất xơ, táo bón sẽ làm tăng áp lực ổ bụng khi rặn, ngồi lâu, đứng lâu sẽ làm tăng áp lực tĩnh mạch.

- Thể trạng sức khỏe: Thừa cân béo phì cũng được coi là yếu tố nguy cơ mắc suy giãn tĩnh mạch.

- Khung xương và khớp được cố định lâu sau phẫu thuật, bệnh nhân bị liệt chi dưới, liệt nửa người hoặc tứ chi… hoặc uống thuốc tránh thai sẽ làm tăng nguy cơ hình thành huyết khối tĩnh mạch sâu gây nên giãn tĩnh mạch nông thứ phát.

2. Giải phẫu sinh lý bệnh:

Hệ thống mạch máu bao gồm ba phần: mạch máu dẫn máu từ tim đến các cơ quan của cơ thể, mao mạch giúp trao đổi chất và tĩnh mạch đưa máu từ các cơ quan trở về tim. Trong đó, hệ thống tĩnh mạch chi dưới gồm 3 nhóm chính:

- Tĩnh mạch: tĩnh mạch chày, kheo, bắp đùi mang 90% lưu lượng máu tĩnh mạch ở 2 chân.

- Tĩnh mạch nông : Tĩnh mạch hiển lớn và hiển bé, chỉ vận chuyển 1o% lưu lượng.

- Tĩnh mạch xuyên: Vận chuyển máu từ tĩnh mạch nông và0 tĩnh mạch sâu.

Trong lòng mạch có van một chiều giúp máu lưu thông từ dưới lên trên, từ nông lên sâu, không làm máu chảy ngược trở lại. Khi các van này suy yếu, máu chảy ngược, ứ đọng ở cẳng chân có thể gây ra hiện tượng tê, phù chân, nặng có thể dẫn đến giãn các tĩnh mạch nông. Một loạt các phản ứng vi mô xảy ra dẫn đến sạm da, chàm hóa và loét do ứ đọng.

3. Chuẩn đoán bệnh:

Các triệu chứng ban đầu của bệnh rất mơ hồ và đôi khi người bệnh không để ý

* Cơ năng: Nặng chân, tê chân, sưng bàn chân, chuột rút, nổi gân xanh ở chân… Các triệu chứng này xuất hiện vào buổi chiều sau 1 ngày làm việc hoặc khi đứng lâu, giảm đi hay biến mất vào buổi sáng hoặc khi nằm nghĩ, kê cao chân.

* Thực thể: Chuyên gia mạch máu sẽ kiểm tra mức độ giãn tĩnh mạch và siêu âm mạch máu giúp đánh giá chính xác tình trạng tĩnh mạch.

4. Phân độ của bệnh:

Có nhiều cách phân loại suy tĩnh mạch nhưng phương pháp được sử dụng phổ biến nhất là C.E.A.P (Clinique-Eti0l0gie-Anat0mie-Physiopath0l0gie). Tuy nhiên, để thuận tiện ch0 việc chẩn đ0án và điều trị, chúng ta thường dựa và0 các yếu tố lâm sàng.

- Mức độ 0: Chỉ có triệu chứng.

- Mức độ 1: Giãn tĩnh mạch xa, hình dạng lưới, phù nề mắt cá chân.

- Mức độ 2: Phình mạch và giãn tĩnh mạch.

- Mức độ 3: Sưng, phù nề nhưng da không thay đổi.

- Mức độ 4: Màu da thay đổi thành dạng sẫm màu, chàm hóa, xơ cứng.

- Mức độ 5: Giống mức độ 4 nhưng có các vết loét đã khỏi.

- Mức độ 6: Giống mức độ 4 nhưng các vết loét phát triển, không khỏi.

5. Biện pháp chữa trị:

5.1. Điều trị không dùng thuốc

Thay đổi lối sống:

- Hạn chế đứng lâu, ngồi lâu, nằm sấp và suy nghĩ.

- Giảm cân và tránh béo phì.

- Ăn nhiều chất xơ, rau quả và uống nhiều nước

- Tránh bị bệnh táo bón

- Mang vớ y tế hoặc băng thun.

- Đối với những bệnh nhân phải nằm bất động trong thời gian dài nên tập vật lý trị liệu, đồng thời cân nhắc dùng thuốc chống đông máu để ngăn ngừa huyết khối tĩnh mạch sâu.

5.2. Điều trị bằng thuốc

- Dùng thuốc làm bền thành mạch: Daflon, Rutin, Ginkgo biloba, Venosan...

- Tiêm thuốc vào tĩnh mạch bị xơ.

5.3. Điều trị ngoại khoa/ phẫu thuật

- Laser trị liệu.

- Phẫu thuật cắt bỏ tĩnh mạch bị suy giãn và sửa van tĩnh mạch.

Nên mổ giãn tĩnh mạch chân ở chuẩn đoán từ mức độ 2 trở lên (tức là các tĩnh mạch bị giãn, phát tán dưới da). Có rất nhiều phương pháp phẫu thuật đã và đang được áp dụng để điều trị bệnh suy giãn tĩnh mạch chân như:

- Sửa chữa van, lấy hết máu đóng cục.

- Cột quai tĩnh mạch hiển.

- Rút bỏ tĩnh mạch hiển (phẫu thuật Stripping)

- Lấy bỏ các tĩnh mạch dãn lớn tại chỗ (phương pháp Muller)

- Liệu pháp can thiệp nội mạch.

6. Liệu pháp dự phòng:

- Tránh đứng/ngồi lâu, kê ca0 chân khi nghỉ ngơi.

- Chế độ ăn nhiều chất xơ, tránh tá0 bón.

- Thực hiện các bài tập thể dục thể tha0 như bơi lội, đi bộ, vận động để giúp máu lưu thông về tim tốt hơn.

- Mang vớ y khoa để phòng ngừa khi có thai.

- Kiểm soát cân nặng tránh bị bệnh béo phì thừa cân.

- Bệnh nhân phải nằm bất động lâu nên tập vật lý trị liệu, x0a bóp chân tay để tránh bị huyết khối tĩnh mạch ...

Theo BV H0ànMỹ